Giữa không gian cổ kính của Di tích quốc gia đặc biệt Chùa Keo Hành Thiện, xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình, ba tấm bia đá có niên đại từ thế kỷ XVII – XVIII không chỉ là những di vật quý của một ngôi chùa cổ mà còn là nguồn tư liệu lịch sử có giá trị đặc biệt. Trải qua hơn ba thế kỷ, những dòng chữ Hán cùng hệ thống hoa văn chạm khắc tinh xảo trên các tấm bia đã góp phần lưu giữ dấu ấn lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng Phật giáo và truyền thống của vùng đất Hành Thiện. Đầu năm 2026, cụm ba bia đá được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia, tiếp tục khẳng định những giá trị tiêu biểu của di sản văn hóa nơi đây.
Ba bia đá thời Lê Trung Hưng – Bảo vật quốc gia lưu giữ dấu ấn lịch sử tại Chùa Keo Hành Thiện
Chùa Keo Hành Thiện, còn gọi là Thần Quang tự, là di tích có lịch sử lâu đời, gắn với quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam cũng như truyền thống văn hóa của cộng đồng cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ. Về với chùa Keo Hành Thiện, di tích quốc gia đặc biệt trên quê hương Xuân Hồng, bên cạnh giá trị nổi bật của công trình kiến trúc cổ, du khách còn có dịp khám phá một hệ thống hiện vật mang ý nghĩa đặc biệt đối với việc nghiên cứu lịch sử ngôi chùa. Trong đó, ba tấm bia đá có niên đại Hoằng Định 13 (1613), Cảnh Trị 9 (1671) và Chính Hòa 25 (1704) là những hiện vật gốc độc bản quý hiếm, được tạo tác trong thời Lê Trung Hưng. Không chỉ ghi dấu những mốc thời gian cụ thể, ba tấm bia còn lưu giữ thông tin về lịch sử, quy mô xây dựng, việc tôn tạo chùa, các công trình kiến trúc và hoạt động thờ tự. Qua những dòng chữ Hán, Hán – Nôm cùng hệ thống hoa văn chạm khắc tinh xảo, một phần diện mạo của ngôi cổ tự Thần Quang trong quá khứ được tái hiện, góp phần làm sáng rõ những giá trị lịch sử, văn hóa của di tích.

Ba tấm bia hiện được lưu giữ tại khu vực tam quan chùa, gồm:
Bia đá “Tu tạo Thần Quang tự bi ký”, niên hiệu Hoằng Định 13 (năm 1613). Vị trí đặt bên trái Tam quan nội (phía trong). Bia được đặt trên lưng rùa cao 20 cm. Mặt trước trán bia chạm “lưỡng long chầu nhật” với đầu rồng ngẩng, miệng há, thân tròn uốn lượn hình yên ngựa; Trán bia chạm nổi 7 chữ Hán “Tu tạo Thần Quang tự bi ký” trong ô hình tròn. Mặt sau, chính giữa trán bia chạm hình mặt trời, xung quanh có mây tản và hai bông cúc mãn khai trên nền hoa văn hình quả trám; riềm bia hai mặt chạm hoa văn dây leo dạng tay mướp.
Bia đá “Thần Quang tự Đại pháp sư bi – Nam mô a di đà phật”, niên hiệu Cảnh Trị 9 (năm 1671), đặt bên trái Tam quan nội (phía ngoài). Bia được đặt trên bệ đá hoa sen. Mặt trước giữa trán bia chạm mặt trời và họa tiết tua hình đao hỏa; hai bên chạm hình “Tiên nữ cưỡi rồng”. Phía dưới bổ ô chạm 7 chữ Hán “Thần Quang tự Đại pháp sư bi” nét chữ to, rõ nét, xung quanh là nền triện, gấm, hoa lá. Lòng bia chạm chữ Hán kiểu chữ chân. Mặt sau chạm 6 chữ Hán “Nam Mô A Di Đà Phật” trong ô hình tròn và vuông. Riềm bia hai bên chạm rồng cuộn, rồng chầu, chim công, nghê chầu; chân bia chạm khắc sinh động các loài vật trong đời sống dân gian như hổ, nghê, hươu, chó ngao…và hoa lá
Bia đá “Hưng chú Thánh tượng Đại pháp sư bi ký – Nam mô a di đà phật”, niên hiệu Chính Hòa 25 (năm 1704), đặt bên phải Tam quan nội (phía ngoài). Bia dáng trụ long đình, đặt trên bệ đá hoa sen, chạm khắc 4 mặt. Đỉnh bia tạo dáng Long đình, đỉnh trên có núm hình quả đào khắc chữ Hán “Phật” ở mặt trước và chữ “Thánh” ở mặt sau. Bên dưới chạm đề tài “lưỡng long chầu nhật” thân rồng uốn lượn ẩn trong mây và băng cánh sen. Trán bia mặt trước khắc 9 chữ Hán “Hưng chú Thánh Tượng Đại pháp sư bi ký”, mặt sau khắc 6 chữ Hán “Nam Mô A Di Đà Phật”. Hai bên riềm bia trang trí hoa cúc dây, riềm dưới chạm đôi nghê chầu và cánh sen hướng lên.
Mỗi tấm bia gắn với một dấu mốc lịch sử riêng, tạo thành hệ thống tư liệu có giá trị trong nghiên cứu quá trình hình thành, tu tạo và phát triển của Chùa Keo Hành Thiện, đồng thời góp phần tìm hiểu đời sống tín ngưỡng, văn hóa của người Việt trong các thế kỷ XVII – XVIII.
Ba bia đá đều được tạo tác với hình dáng vững chãi, bố cục, hình khối cân xứng hài hòa, có kích thước lớn, đề tài trang trí phong phú với các hình tượng: rồng, tiên nữ, hoa sen, mây lửa… thể hiện sự sáng tạo và kỹ thuật chạm khắc đá điêu luyện bậc nhất vào thế kỷ XVII – XVIII mà ít có bia đá thời Lê Trung Hưng nào trên cả nước có được.

Trên ba bia đá chùa Keo Hành Thiện chạm khắc nhiều đề tài, bao gồm: các linh vật, cỏ, cây, hoa, lá, họa tiết hoa văn vô cùng đặc sắc phản ánh sự tài hoa, trí sáng tạo, tư duy thẩm mỹ nghệ thuật của nghệ nhân đương thời. Các linh vật gồm: rồng, phượng, nghê, hổ, hươu, chó ngao… với nhiều kiểu dáng khác nhau, phản ánh các tầng lớp xã hội đương thời. Các linh vật: rồng chầu mặt nguyệt, rồng chầu mặt trời, rồng cuộn ổ, rồng cuốn… được tạo hình ở phía trên, biểu trưng cho vua và tầng lớp quý tộc. Các loài vật: hươu, nai, chó ngao… được tạo hình ở phía dưới tượng trưng cho tầng lớp nhân dân (sĩ, nông, công, thương…). Sự đan xen, hòa quyện giữa các giai tầng xã hội tạo lên bức tranh sinh động về đời sống văn hóa, kinh tế – xã hội đương thời.
Một trong những giá trị nổi bật của ba tấm bia đá là kho tàng tư liệu Hán – Nôm nguyên gốc, lưu giữ nhiều thông tin lịch sử quan trọng đến di tích và nhân vật thờ. Qua nội dung văn bia, các nhà nghiên cứu có thêm nguồn tư liệu để tìm hiểu về tên gọi, lịch sử, vị trí, quy mô xây dựng và các công trình kiến trúc, thờ tự trong Chùa.
Sử sách ghi chép rằng: Vào năm 1611 tại đây xảy ra trận lụt lớn làm vỡ đê, gây ngập lụt trên diện rộng, chôn vùi nhiều làng xã và công trình kiến trúc, trong đó có chùa Thần Quang. Sau biến cố này, cộng đồng cư dân đã di chuyển chùa sang hai bên tả, hữu sông Hồng. Một bộ phận sang tả ngạn sông Hồng, lập làng Dũng Nhuệ, nay thuộc xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên; bộ phận chuyển sang hữu ngạn sông Hồng lập làng Hành Cung, nay thuộc xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình. Trong bối cảnh lịch sử ấy, ba tấm bia đá hiện còn tại chùa Keo Hành Thiện trở thành những chứng tích quan trọng gắn với quá trình phục dựng và tôn tạo lại ngôi chùa trong thời Lê Trung Hưng, đồng thời phản ánh sự chung sức của cộng đồng trong việc duy trì cơ sở tín ngưỡng.
Giá trị của cụm bia đá cũng gắn liền với lịch sử hình thành làng Hành Thiện – vùng đất nổi tiếng với truyền thống hiếu học, khoa bảng và đời sống văn hóa phong phú. Qua nhiều thế hệ, người dân nơi đây luôn coi trọng việc gìn giữ di tích, bảo tồn phong tục, tập quán và phát huy những giá trị văn hóa được trao truyền từ cha ông.
Đặc biệt, nội dung văn bia do những nhà khoa bảng, trí thức lừng danh thời bấy giờ soạn thảo. Nội dung các văn bia tôn vinh Đức Thánh Tổ Dương Không Lộ – vị thiền sư nổi tiếng thời Lý, có công chữa bệnh cho vua, dạy dân nghề đánh cá, cứu giúp nhân sinh, được nhân dân suy tôn là Quốc sư, Đại pháp sư và Nam Thiên Thánh Tổ. Trong đời sống tín ngưỡng tại Chùa Keo Hành Thiện, Ngài là nhân vật có vị trí quan trọng, gắn với lịch sử hình thành, phát triển của ngôi chùa và truyền thống thờ phụng được cộng đồng gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Bên cạnh việc tôn vinh công đức của Đức Thánh tổ Dương Không Lộ, văn bia còn ca ngợi cảnh quan, danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Đại Việt với núi Bảo Cái, sông nước tựa rồng cuộn, khắc họa bức tranh xã hội thanh bình, đất nước thịnh trị, nơi các tầng lớp Sĩ, Nông, Công, Thương đến các tầng lớp nhân dân đều được ấm no, hạnh phúc.
Nội dung văn bia còn lưu danh hàng nghìn người cúng tiến, đóng góp công sức và tiền của cho việc xây dựng, tu tạo chùa, từ quan lại triều đình đến nhân dân nhiều địa phương trong vùng châu thổ sông Hồng. Sự chung sức đồng lòng ấy đã tạo nên nguồn lực to lớn để xây dựng nên ngôi cổ tự Thần Quang uy nghi, cổ kính xứng danh là đại thắng danh lam của Trời Nam như hiện nay.
Đặc biệt đây là bia “tạo lệ” dành cho những ngôi quốc tự thời Lý có sự ảnh hưởng và chi phối của triều đình, vì vậy giá trị của ba bia đá này càng được khẳng định và tôn vinh.
Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật, chùa Keo Hành Thiện đã được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa quốc gia năm 1962; đến năm 2016, di tích được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt. Việc ba bia đá thời Lê trung Hưng chính thức được công nhận là Bảo vật Quốc gia gia theo Quyết định số 236/QĐ-TTg ngày 03/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ tiếp tục khẳng định tầm vóc lịch sử, giá trị văn hóa đồ sộ của di tích. Đây là niềm tự hào to lớn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Xuân Hồng nói riêng, tỉnh Ninh Bình nói chung, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn trong công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản.
Trước thềm lễ đón nhận bằng công nhận Bảo vật quốc gia, việc giới thiệu rộng rãi những giá trị của ba tấm bia đá càng có ý nghĩa thiết thực, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân và quảng bá hình ảnh quê hương Xuân Hồng. Qua đó, cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, có thêm điều kiện tìm hiểu về lịch sử quê hương, trân trọng những di sản do các thế hệ đi trước tạo dựng và ý thức rõ hơn trách nhiệm trong việc kiến tạo, gìn giữ di sản văn hóa của dân tộc. Đồng thời mở ra cơ hội để địa phương tiếp tục bảo tồn, lan tỏa giá trị di sản, gắn kết cộng đồng và phát triển du lịch văn hóa tâm linh trên mảnh đất Hành Thiện địa linh nhân kiệt./.